Bài Mới
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bé Từ 1 - 3 Tuổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bé Từ 1 - 3 Tuổi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015

Lời khuyên khi chọn thực đơn ăn dặm cho bé 6 tháng tuổi

Bữa ăn dặm của bé cần được đảm bảo đủ 4 nhóm thức ăn ( bột đường , đạm , béo , chất xơ - vitamin và khoáng vật ) để đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng cho bé. Ngoài ra , thực phẩm cho bé cũng phải đảm bảo sạch và an toàn , dễ chuẩn bị từ các thực phẩm của Nhà ở và Vùng đất , không quá nóng , cay , mặn…

Bắt đầu từ bột dinh dưỡng cho bé ăn liền nguyên tắc ăn dặm được các thầy thuốc khuyến cáo là ăn từ lỏng tới đặc , từ ít tới nhiều để tập cho trẻ làm quen với các thức ăn mới và hệ tiêu hóa của trẻ dần dần thích nghi với chế độ tiêu hóa thức ăn.
Dó đó , thời kì khởi đầu  các mẹ có thể sử dụng các thức ăn dặm. Thức ăn dặm có nhiều loại tùy thuộc vào tháng tuổi của bé , trong đó loại Ấy là bột dinh dưỡng. Các loại này có nhiều mùi vị mặn ngọt khác nhau , được chế biến sẵn , không thèm nấu , chỉ cần hòa tan với nước lọc ấm sẽ có ngay một bữa ăn ngon lành cho bé. Trong thời kì ăn dặm hàng đầu , đa phần các bà mẹ tập cho con ăn bằng mì chính pha loãng , sau đó đặc dần. Đây là bước quan trọng để hệ tiêu hóa của trẻ dần dần thích nghi với chế độ tiêu hóa thức ăn.
Thức ăn dặm bình thường được chế biến phối hợp từ các loại nguyên liệu như gạo , đậu , ngũ cốc , rau quả , thịt , cá , trứng , sữa... và đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng với 4 nhóm đạm , béo , bột đường , vitamin và khoáng vật , đầy đủ năng lượng cung cấp hàng ngày cho bé , hợp với khẩu vị của bé.… đến bột/cháo tự nấu khi bé chuyển sang ăn bột mặn , theo các chuyên gia dinh dưỡng , thực phẩm an dam cho be Ấy là bột/cháo nấu với đủ 4 nhóm thực phẩm như sau:

- Nhóm cung cấp bột đường: Sử dụng gạo tẻ gạo tám mới , không nên nháo nhào gạo nếp , ý dĩ , hạt sen , đậu xanh khiến trẻ khó ăn và chậm tiêu. Với trẻ trên 1 tuổi , nên Đa chủng thực đơn ăn dặm , có thêm các món: súp khoai tây thịt bò xay , bún , phở , bánh đa… để trẻ hào hứng với bữa ăn.

- Nhóm cung cấp chất đạm: Thịt nạc ( lợn , gà ) , tròng đỏ gà: là những thực phẩm giàu đạm dễ tiêu khuyến nghị dùng cho trẻ khi mới bắt đầu tập ăn dặm. Khi sang tháng thứ 7 , cho trẻ ăn thịt bò , cá , tôm , cua. 
- Nhóm cung cấp chất béo: Trẻ cần ăn xen kẽ cả dầu thực vật và mỡ động vật ( mỡ gà , mỡ lợn… ) , với tỷ lệ tối ưu là 1:1. Các loại dầu thực vật nên ăn Đa chủng ( đậu tương , mè , ôliu , dầu cá hồi… ) , riêng dầu gấc không nên ăn hàng ngày mà chỉ nên 1-2 lần/tuần để tránh vàng da do thừa tiền vitamin A.

- Nhóm cung cấp chất xơ và vitamin: rau xanh và củ quả. Đây là nhóm Đại khái không cung cấp năng lượng nên không cho lan tràn thặng dư vào bột cháo của trẻ , làm giảm năng lượng khẩu phần khiến trẻ chậm lên cân. Với trẻ bắt đầu ăn dặm nên cho 1 thìa rau , rồi đây tăng lên 2-3 thìa rau/bát bột cháo là đủ. Nếu trẻ táo bón có thể tăng cường thêm nhưng không nên lan tràn thặng dư. Trái lại , với trẻ bị thừa cân béo phì rất nên tu bổ tăng cường nhóm này để hạn chế năng lượng.Một lưu ý quan trọng khi chuẩn bị bữa ăn cho bé là mẹ 
không cho thêm nhiều mắm muối , gia vị và chất tạo ngọt.  Mẹ có thể nêm thêm chút mắm , nhưng nên cho bé ăn càng nhạt càng tốt.Cùng với cho ăn dặm , mẹ vẫn cần cho trẻ bú càng nhiều càng tốt để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Ngoài ra , mẹ cần lưu ý cho trẻ được uống đủ nước đun sôi để nguội , nước hoa quả tươi và ăn thêm hoa quả để cung cấp đủ vitamin và chất xơ , đảm bảo quá trình tiêu hóa trong cơ thể bé được thuận lợi.Bữa ăn phụ với pho mát Một loại thực phẩm bổ vừa dùng để nấu cùng cháo và dùng làm bữa ăn phụ mà các thầy thuốc dinh dưỡng khuyên dùng Ấy là pho mát. Pho mát là chế phẩm từ sữa , được kết đông và lên men nên có hàm lượng đạm , lipid , đặc biệt hàm lượng canxi rất cao , rất phù hợp trong thời kì phát triển Dữ dội của bé lúc đầu đời. Mẹ có thể cho bé ăn pho mát trực tiếp hoặc nấu cháo , Ngày ngày 1-2 viên ( mỗi viên 15g ) nhưng nên giảm bớt lượng đạm và lượng dầu mỡ để dạ dày của bé có tiêu hóa hết mà không bị quá tải. Ngoài pho mát dạng viên , mẹ có thể cho con ăn pho mát hoa quả như một bữa ăn phụ hàng ngày. Hiện trên thịt , loại pho mát hoa quả đang được nhiều bà mẹ ưa chuộng và tuyển trạch là pho mát hoa quả Le Petit Plaisir. Thành phần dinh dưỡng có trong sản phẩm này rất Đa chủng , gồm: váng sữa , phoma tươi , hoa quả , canxi.Đặc biệt , sản phẩm không sử dụng một số chất can thiệp nhằm tăng thời gian bảo quản cho xuất khẩu , được các cơ quan kiểm nghiệm chất lượng của nước Đức chứng nhận chất lượng như sản xuất cho đích thị trường châu Âu. 

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

8 sự thật về viêm phổi ở trẻ mẹ nên biết

Viêm phổi là căn bệnh nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời có thể là nguyên nhân gây tử vong cao cho trẻ dưới 5 tuổi.
Trong thời gian gần đây, do thời tiết trở lạnh nên có rất nhiều trường hợp trẻ phải nhập viện do bị viêm phổi. Điều đáng lo ngại là nhiều trẻ phải nhập viện trong tình trạng nặng, đặc biệt là trẻ viêm phổi phải tiến hành thở máy. Tình trạng này khiến nhiều phụ huynh không khỏi lo lắng về tình trạng sức khỏe của con em mình.
Bệnh viêm phổi là  căn bệnh  vô cùng nguy hiểm  ở trẻ.  Số ca tử vong ở trẻ em dưới năm tuổi trên toàn thế giới đã giảm 50% kể từ năm 1990, từ 12,7 triệu  xuống còn 6,3 triệu trẻ chết vào năm 2013. Tuy nhiên, mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ 4 tr ong đó kêu gọi giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới năm tuổi còn hai phần ba vào năm 2015  vẫn còn nằm ngoài tầm với của nhiều quốc gia. Vì bệnh viêm phổi vẫn là bệnh truyền nhiễm cướp đi sinh mạng trẻ em nhiều nhất nên các chính phủ đang rất nỗ lực để tiếp tục giảm tỷ lệ trẻ em tử vong do viêm phổi.
Để đảm bảo an toàn cho trẻ trước căn bệnh này, các mẹ nên biết các điều này.

1. Ủ ấm trẻ quá kỹ cũng là nguyên nhân khiến  trẻ bị viêm phổi
Nhiều mẹ nghĩ rằng vào mùa đông cần phải ủ ấm  cho trẻ một cách cẩn thận bằng nhiều lớp áo dày mỏng khác nhau. Tuy nhiên đây là một điều hoàn toàn sai lầm, việc ủ ấm quá mức có thể sẽ gây thêm bệnh cho trẻ. Các mẹ nên biết, thân nhiệt của trẻ không giống như người lớn. Trẻ sẽ cảm thấy nóng hoặc lạnh nhanh hơn. Trẻ thường hay chạy nhảy, chơi đùa nên dễ nóng người, toát mồ hôi ngay cả khi thời tiết đang rất lạnh. Vì thế, mặc quá ấm, trẻ dễ bị ra mồ hôi lưng, đầu. Nếu bố mẹ không sớm nhận thấy điều đó, thì trẻ sẽ bị cảm lạnh, viêm phổi.
Ủ ấm trẻ quá kỹ cũng là nguyên nhân khiến  trẻ bị viêm phổi (Ảnh minh họa)

 
Vì thế, trong mùa đông, các mẹ chỉ nên mặc đủ ấm cho trẻ, chọn các loại quần áo sao cho an toàn, thoải mái và giúp bé duy trì thân nhiệt. Mẹ nên mặc cho bé một  áo khóc dày bên ngoài, nếu trẻ ở trong nhà hoặc chơi đùa có thể cởi ra, lúc phải đi ngoài đường lạnh thì mặc vào dễ dàng

2. Có rất nhiều triệu chứng khác nhau khi nhận biết trẻ bị viêm phổi
Trẻ sốt cao và kéo dài: Sốt cao có thể là triệu chứng của nhiều bệnh khác, tuy nhiên trẻ sốt cao kéo dài trong 2-3 ngày liền thì lại là triệu chứng viêm phổi. Khi   thấy trẻ bị sốt cao mà kéo dài cần được đưa ngay tới bệnh viện gần nhất.

Trẻ dưới hai tháng, thở nhanh khi nhịp thở từ 60 lần/phút trở lên.- Nhịp thở nhanh so với lứa tuổi: Đây được coi là dấu hiệu chính và xuất hiện sớm nhất khi trẻ bị viêm phổi:
Trẻ từ 2 tháng đến dưới 12 tháng, thở nhanh với 50 lần/phút trở lên.
Trẻ từ 12 tháng đến dưới 5 tuổi, 40 lần/phút trở lên là thở nhanh.

-  Rút lõm lồng ngực: Đây là triệu chứng của trẻ đã bị viêm phổi nặng. Cách để cha mẹ phát hiện duy nhất là nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là rút lõm lồng ngực.

Cơ thể tím tái: Tím tái là biểu hiện cơ thể trẻ, có thể nhận biết triệu chứng ở mặt, chân, tay cho đến toàn thân có biểu hiện da nhợt nhạt và tím lại thì đó là dấu hiệu của rối loạn hô hấp. Trẻ có hiện tượng này có nghĩa là đang viêm phổi nặng, nếu không được phát hiện và đưa đi cấp cứu kịp thời rất dễ để lại biến chứng, thậm chí là tử vong.

Triệu chứng khác như: Trẻ khó thở, thở khò khè; Đau ngực, có thể đau ít hoặc nhiều;  Môi khô, kèm theo mệt mỏi chán ăn

3. Bệnh viêm phổi là căn bệnh nguy hiểm đối với trẻ em

Viêm phổi là căn bệnh nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời có thể là nguyên nhân gây tử vong cao cho trẻ dưới 5 tuổi. Tỉ lệ trẻ tử vong vì viêm phổi có thể có thể lớn gấp nhiều lần so với các bệnh khác. Theo thống kê, trên thế giới, mỗi năm có khoảng 1 triệu trẻ em chết vì viêm phổi, chiếm 15% tổng số ca tử vong của trẻ em trong độ tuổi này. Trong năm 2013, tổng số có 935.000 trường hợp trẻ không may qua đời vì viêm phổi, tính ra có hơn 2.500 trẻ qua đời mỗi ngày.

4. Viêm phổi thường lây lan rất nhanh

Bệnh viêm phổi do vi khuẩn và virus thường lây qua chất dịch phát tán từ mũi hoặc miệng người bệnh. Bệnh có thể lây khi người bệnh ho hoặc hắt hơi vào người khác, hay qua dùng chung ly uống nước và dụng cụ đựng thức ăn, sờ vào khăn giấy hoặc khăn tay mà người bệnh đã sử dụng. Do đó, khi trong gia đình có người mắc bệnh, người lớn nên chú ý phòng tránh cho trẻ và không nên đưa trẻ đến những chỗ đông người.

5. Bệnh viêm phổi có thể được ngăn chặn nếu người lớn biết cách

Để phòng tránh bệnh viêm phổi cũng như một số bệnh khác, trẻ phải được bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời và kéo dài cho đến khi trẻ dược 18 - 24 tháng. Trẻ phải được chăm sóc, bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt với trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi.
 8 sự thật về viêm phổi ở trẻ mẹ nên biết - 2
Để phòng tránh bệnh viêm phổi cũng như một số bệnh khác, trẻ phải được bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời và kéo dài cho đến khi trẻ dược 18 - 24 tháng (Ảnh minh   họa)
Người chăm sóc trẻ phải rửa tay thường xuyên, sử dụng nguồn nước sạch và giữ gìn vệ sinh môi trường nhằm bảo vệ trẻ chống lại các mầm bệnh gây viêm phổi, tiêu chảy và các bệnh khác. Khử sạch không khí ô nhiễm trong nhà, đặc biệt là khói từ các bếp lò không an toàn sẽ giúp làm giảm nguy cơ viêm phổi nặng ở trẻ. Bên cạnh đó, việc tiêm chủng vắc-xin sẽ giúp cung cấp sự bảo vệ chống lại sự nhiễm khuẩn gây ra bởi nhiều chủng phế cầu khác nhau. 
Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở... và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân... Nên đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nơi cư trú để được tư vấn và có hướng điều trị thích hợp, tránh lây lan cho người khác, không nên tự dùng thuốc cho trẻ.

6. Tỷ lệ tử vong của bệnh viêm phổi có liên quan đến suy dinh dưỡng

Trẻ em bị suy dinh dưỡng, đặc biệt là những trẻ bị suy dinh dưỡng cấp tính nặng, có nguy cơ tử vong cao hơn khi bị viêm phổi.  Điều này là do suy dinh dưỡng làm suy yếu hệ thống miễn dịch, ngăn không cho cơ thể chiến đấu lại căn bệnh này. Các yếu tố có liên quan đến dinh dưỡng là nguyên nhân dẫn  đến  45% các ca tử vong ở trẻ em dưới năm tuổi. Do đó, các mẹ cẩn phải đảm bảo cho trẻ có một chế độ dinh dưỡng đầy đủ giúp  hệ miễn dịch và sức đề kháng của trẻ  được khỏe mạnh để chống trọi tốt với các virus gây bệnh.

7. Bệnh viêm phổi thường bị chuẩn đoán nhầm

Một tỷ lệ lớn các trẻ em tử vong do viêm phổi bởi vì chúng không được điều trị đúng cách sau khi bị chẩn đoán nhầm. Các triệu chứng của viêm phổi bao gồm sốt, khó thở, tim đập nhanh và ho dữ dội có thể bị nhầm lẫn với các bệnh trẻ nhỏ khác như sốt rét. Khi chẩn đoán viêm phổi, nhân viên y tế cộng đồng được đào tạo để tính toán tỷ lệ hô hấp của trẻ em, và sau đó xác định xem trẻ có đang thở nhanh hơn bình thường hay không.
 8 sự thật về viêm phổi ở trẻ mẹ nên biết - 3
Các triệu chứng của viêm phổi bao gồm sốt, khó thở, tim đập nhanh và ho dữ dội có thể bị nhầm lẫn với các bệnh trẻ nhỏ khác như sốt rét (Ảnh minh họa)
Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng gần một nửa các y tá, đặc biệt là những người có kỹ năng làm toán thấp, không thể áp dụng chính xác kỹ thuật để tính toán. Chẩn đoán chính xác là rất quan trọng trong việc đảm bảo rằng tất cả trẻ em được điều trị thích hợp, cho dù đó là thuốc kháng sinh cho bệnh viêm phổi hoặc điều trị các bệnh khác.

8. Bệnh viêm phổi có thể được điều trị dễ dàng

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyên rằng phân tán amoxicillin trong năm ngày là phương pháp điều trị kháng sinh thích hợp cho trẻ em dưới năm tuổi được chẩn đoán bị viêm phổi. Trẻ em có dấu hiệu nguy hiểm nên được chuyển đến một cơ sở y tế cao hơn cho điều trị bằng tiêm kháng sinh và thở oxy. Tuy nhiên, điều trị kháng sinh lại chỉ được áp dụng với chưa đầy một nửa số trường hợp viêm phổi.


Theo(Eva)

Lý do “ngã ngửa” khiến trẻ sơ sinh chậm tăng cân

Đây là những nguyên nhân gây ngạc nhiên cho nhiều bà mẹ vì nó thường không được chú ý hay bỏ quả khi chăm con.


Có rất nhiều nguyên nhân dẫn dến việc trẻ chậm  tăng cân hoặc thậm chí là sụt cân. Ngoài những lý do phổ biến “ai cũng biết” như trẻ lười ăn, bị sốt…thì còn có những lý do sẽ gây ngạc nhiên cho nhiều bà mẹ vì nó không được chú ý hoặc thường hay bị bỏ qua trong các tình huống chăm con trong thực tế.
Tắm ngay sau khi ăn
Mẹ có tắm cho em bé ngay sau khi ăn?Nếu có, bây giờ là lúc để thay đổi thói quen đó. Khi đứa trẻ được cho ăn, dạ dày cần có thời gian để tiêu hóa giống như cơ thể của một người trưởng thành.
Nếu trẻ đi tắm ngay sau khi ăn, nó sẽ làm chậm quá trình tiêu hóa.Điều này dẫn đến sự trao đổi chất chậm hơn ở trẻ sơ sinh.Thậm chí, một số em bé còn có thể bị táo bón, nôn, khó tiêu, khí gas vì  tắm  ngay sau khi ăn.
Việc này đã dẫn đến trẻ chậm tăng cân hoặc sụt cân.Tắm cho em bé trước và sau đó mới cho ăn sẽ giúp các chất dinh dưỡng được hấp thu tốt hay tiêu hóa tốt hơn.
Mới ăn xong đã tắm ngay làm chậm quá trình trao đổi chất của trẻ khiến trẻ chậm tăng cân  (ảnh minh hoạ)

 
Khoảng cách giữa hai cữ ăn quá dài
Đây là một trong những lý do chính cho việc giảm cân ở trẻ sơ sinh. Sự thật là: Khoảng cách giữa các bữa ăn càng dài thì bụng trẻ càng sản sinh ra nhiều khí gas, dẫn đến đầy hơi. Điều này khiến trẻ không muốn ăn, kết quả dinh dưỡng hấp thu ít và cuối cùng là sụt cân.
Khoảng cách quá dài giữa hai cữ ăn cũng có thể dẫn đến chứng khó tiêu và táo bón ở trẻ sơ sinh.
Một em bé cần được cho ăn trong vòng 30 phú sau khi thức dậy và khoảng cách lý tưởng giữa các bữa ăn cho trẻ sơ sinh là từ 3-4 giờ.
Uống nước lọc trước bữa ăn
Điều này đúng trong trường hợp em bé đã hơn 6 tháng. Nếu trước khi ăn dặm, mẹ cho bé uống sữa thì sẽ dẫn đến việc thức ăn bị kém hấp thụ. Nước cũng tương tự như vậy, nếu bé được cho uống nước trước bữa ăn chính, bụng sẽ đầy lên và do đó giảm lượng thức ăn đưa vào.

Nước chỉ nên cho trẻ sơ sinh uống vào cuối bữa ăn, cũng có thể cho con uống giữa các bữa ăn. Nhưng uống nước vào đầu các bữa ăn chính thì là nghiêm cấm.Trong nhiều trường hợp, trẻ thậm chí còn bị nôn trớ nếu nhồi nhét thức ăn.
Nhiễm giun
Giun trong ruột của bé ngăn chặn sự hấp thu chất dinh dưỡng từ thực phẩm. Nếu thấy con có khả năng bị nhiễm giun, mẹ nên đưa bé đi khám để có toa thuốc điều trị thích hợp. Diệt hết giun sẽ giúp bé tăng cân trở lại.
Yếu tố di truyền
ấp bé nhẹ cân cũng có thể là do di truyền. Mẹ nên cem có ai từ phía gia đình hai bên nội ngoại như bố, mẹ hay ông bà có vóc dáng gầy nhỏ thì trẻ cũng có thể sẽ như vậy.
Ăn quá nhiều thực phẩm chứa chất xơ
Mẹ nên tránh dùng quá nhiều thực phẩm giàu chất xơ như mì ống nguyên hạt, gạo nâu, rau củ, khoai lang…vv khi chế biến thức ăn cho con. Các sợi chất xơ trong các thực phẩm này có thể lấp đầy bụng của trẻ trong một thời gian dài nhưng sau đó lại bị thải loại và khiến lượng thức ăn thực sự trẻ ăn được sẽ giảm.
Sụt cân sau cai sữa
Một số trẻ có thể sẽ bị giảm cân sau khi cai sữa. Do vậy mẹ cần bổ sung thâm nhiều thực phẩm cân bằng lại như sữa nguyên kem, nước, hoa quả, rau và ngũ cốc.

Theo(Eva)

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

Những món ăn bốc cho bé "đại bổ"

Bé sơ sinh đã có khả năng bẩm sinh để cầm nắm các đồ vật. Nhưng phải mất ít nhất một năm để bé hoàn thiện kỹ năng nhặt và giữ mọi thứ an toàn trong tay. Bé bắt đầu xuất hiện kỹ năng này ở tháng thứ 3 và tiến bộ dần lên ở những tháng tiếp theo. Các mẹ nên tập cho các bé tự ăn bắt đầu với những thực phẩm đơn giản.

1. Bánh mì
Ở tháng thứ 3, các bé đã biết nhận biết những gì thích cầm và cố gắng nhặt chúng lên. Mẹ có thể cho bé tập cầm những vật mềm, xốp như một chiếc bánh quy, bánh gạo hay mẩu bánh mì, hãy cứ để bé cầm cho đến khi mọi thứ trong tay bé trở nên vỡ vụn. Khi bé cầm chắc được các vật, mẹ cho bé cầm những mẩu bánh mì nhỏ hơn. Tuy nhiên, các mẹ nên chú ý tránh để bé bị hóc khi ăn.

2. Pho mát
Pho mát là thực phẩm cung cấp đầy đủ protein, canxi, khoáng chất cho trẻ. Trước tiên, mẹ cho bé tập ăn với những loại có hương vị nhẹ nhàng như phomat trắng của Ý, phomat dày. Mẹ nên cắt nhỏ ra cho bé dễ cầm. Khi đã ăn quen, mẹ có thể bổ sung danh sách các loại phomat với nhiều hương vị khác nhau cho bé. Tuy nhiên, các mẹ không nên chọn loại pho mát mềm của Pháp và Hy lạp, bởi chúng có chứa vi khuẩn Listeria gây ngộ độc thực phẩm. Bên cạnh đó, pho mai que không phải là sự lựa chọn lí tưởng cho trẻ, chỉ trừ khi chúng đã được cắt nhỏ ra.

3. Hoa quả
Để trẻ tập ăn hoa quả, các mẹ nên cho bé ăn những loại quả mềm như chuối, lê. Ngoài ra, các loại quả như xoài, đào, mơ, dưa mật và dưa đỏ cũng hấp dẫn với trẻ. Các mẹ chú ý không cho con ăn những quả chưa chín hoặc cứng, vì chúng có thể khiến trẻ bị hóc, nghẹn.

Để trẻ tập ăn hoa quả, mẹ nên cho con ăn những loại quả mềm như chuối, lê - Ảnh minh họa

4. Rau
Khi bé bắt đầu bước vào giai đoạn ăn dặm, mẹ nên nấu hoặc xay nhuyễn các loại rau để bé dễ ăn hơn. Mẹ có thể cắt nhỏ bông cải xanh hoặc súp lơ, cho bé cầm tay thay cho trò chơi. Khoai tây, cà rốt, quả bí ngô khi được nấu nhuyễn, có vị ngọt giúp trẻ ăn ngon miệng. Ngoài ra, quả bơ được đánh giá là thực phẩm tốt cho não bộ của bé. Các mẹ không nên cho bé cầm các loại rau quả cứng, dễ gây nguy hiểm cho trẻ.

5. Cá
Cá là sản phẩm hoàn hảo, chứa nhiều protein, canxi, sắt và omega 3 có lợi cho tim. Ngoài ra, cá có thể giúp giảm bớt eczema (chàm bội nhiễm) và kích thích sự phát triển của trí não. Mẹ nên nướng hoặc luộc những loại cá thịt trắng như cá tuyết, các bơn cho bé ăn. Các mẹ không nên chọn cá kiếm, cá kình, cá thu... vì trẻ dễ bị ứng. Mẹ nhớ nhặt bỏ hết xương cá, tránh cho con bị hóc.

6. Thịt viên
Mẹ có thể bổ sung lượng sắt cho con bằng các món ăn từ thịt, đặt biệt thịt được chế biến theo kiểu băm viên. Mẹ tránh viên thịt quá to, chỉ đủ vừa cho bé cầm. Khi ăn, mẹ cắt nhỏ miếng thịt để giúp con dễ ăn hơn.

Thịt viên kích thước đủ vừa giúp bé dễ cầm - Ảnh minh họa

7. Mì
Sẽ phải mất một thời gian, con mới có thể dùng nĩa để ăn mì. Trước đó, mẹ cứ để con ăn bằng tay, với điều kiện tay bé phải được rửa sạch sẽ, tránh bị nhiễm khuẩn khi ăn. Mẹ nên nấu cho mì mềm, không nên nấu sần sật, vì như thế trẻ sẽ khó ăn, sau đó cắt mì thành những đoạn nhỏ.

8. Lòng đỏ trứng
Các bác sĩ khuyên rằng, mẹ không nên cho bé ăn lòng trắng trứng cho đến khi bé lên một tuổi. Vào khoảng 6 tháng tuổi, mẹ có thể tập cho con ăn lòng đỏ. Sau khi luộc chín, mẹ nên cắt thành từng miếng nhỏ cho con dễ ăn.


Theo Thanh Loan (Theo whattoexpect.com) (khampha.vn)

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Những cách kết hợp thực phẩm có lợi cho sức khỏe bé

Nếu tập ăn dặm, có thể cho bé thử khoai lang với nước ép táo; khoảng 8 tháng tuổi, có thể cho bé ăn thịt gà (thịt bò) kèm carrot.

Giai đoạn mới ăn dặm đến 8 tháng tuổi

1. Bí đỏ, chuối chín và nước ép táo
Dầm nhuyễn bí đỏ đã được hấp (luộc) chín với một phần chuối chín. Thêm vào hỗn hợp nước táo ép.





2. Bí đỏ và chuối chín

Bí đỏ hấp chín rồi trộn chung với chuối chín.

3. Nước xốt táo và nước xốt lê

Trộn táo và lê (được hấp chín và xay nhuyễn) với nhau.

4. Chuối chín và quả bơ

Chuối chín và quả bơ là món ngon cho bé. Có thể thêm hỗn hợp quả này vào bột ăn dặm: Trộn bột với nước ấm; sau đó, cho hỗn hợp quả vào bột rồi trộn đều lên.

5. Bí đỏ và bột ăn dặm

Trộn lẫn bí đỏ (hấp chín, dầm nhuyễn) với bột yến mạch hoặc bột gạo ăn dặm.

6. Táo và bột ăn dặm

Trộn lẫn một phần nước xốt táo với bột yến mạch hoặc bột gạo ăn dặm.

7. Khoai lang và nước táo ép

Thêm chút nước táo ép vào hỗn hợp khoai lang được hấp chín, dầm nhuyễn sẽ khiến khoai có vị ngọt, thơm hơn.

Giai đoạn 8-10 tháng tuổi

1. Đậu Hà Lan, carrot và bột ăn dặm

Có thể thêm vào hỗn hợp trên một chút nước táo ép và sữa chua sau khi đã múc bột ra bát.

2. Đậu que và khoai tây

Trộn lẫn đậu que với khoai tây thành hỗn hợp mịn. Có thể thêm nước ép táo hoặc nước ép lê khiến bé ngon miệng.

3. Khoai lang và bột ăn dặm

Thêm khoai lang vào bát bột ăn dặm cho bé; sau đó, múc bột ra bát rồi thêm sữa chua.

4. Các món kết hợp với đậu phụ

- Đậu phụ trộn lẫn với nước táo ép.

- Trộn lẫn đậu phụ với quả bơ và quả lê.

- Trộn đậu phụ với chuối chín.

5. Các món với thịt gà (thịt bò)

- Thịt gà (thịt bò) trộn cùng carrot (có thể thêm nước ép táo)

- Thịt gà (thịt bò) trộn chung với bí đỏ hoặc khoai lang.

Một số cách kết hợp khác:

-  Dâu tây và bánh mỳ nướng
Vitamin C có trong dâu tây làm biến đổi chất sắt có trong bánh mỳ nướng thành một dạng mà cơ thể dễ hấp thu.

- Cháo (bột) yến mạch (oatmeal) và sữa công thức

Magiê có trong bột yến mạch tăng khả năng hấp thụ canxi có trong sữa.


- Dầu olive và rau xanh

Những loại rau như súp lơ xanh, cải bó xôi (rau chân vịt), quả bí đao; thậm chí cả ớt xanh, những loại rau có lá màu xanh đậm đều có thể kết hợp với dầu olive. Chất béo “khỏe mạnh” trong dầu olive giúp cơ thể hấp thu tốt chất chống oxy hóa có trong rau xanh.

- Thịt gà và carrot

Súp thịt gà, carrot là món ăn thích hợp cho bé khi ốm. Chất kẽm có trong thịt gà giúp cơ thể chuyển hóa tốt vitamin A có trong carrot.





Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

Sai lầm khi chế biến khiến rau mất chất của các mẹ

Nhiều mẹ hay thái rau rồi mới rửa mà không biết nhiều chất dinh dưỡng có thể tan trong nước.


Rau quả chứa rất nhiều canxi, sắt, đồng và các vitamin và khoáng chất khác, có khả năng thúc đẩy sự tổng hợp hemoglobin - các tế bào máu đỏ để kích thích tăng trưởng. Nhưng nếu ăn uống, chế biến rau quả cho bé không đúng cách, mẹ có thể sẽ làm các chất dinh dưỡng trong rau quả bị mất, bị phá hủy một phần hoặc thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé.

1. Không biết cách rửa rau
Ngày nay, nhiều bà mẹ bắt đầu có thói quen mua rau cho con tại các siêu thị hay những cửa hàng rau sạch. Cũng vì đã mang tiếng “rau sạch” nên nhiều chị em chủ quan, không rửa rau kỹ trước khi nấu. Trong thực tế, có rất nhiều loại bã thuốc trừ sâu ở trong rau nếu không được làm sạch kỹ lưỡng sẽ gây nguy hại cho sức khoẻ em bé.
Cách thực hiện đúng: Khi mua rau tươi về mẹ nên cho rau vào nước ngâm trong 20 phút để thuốc trừ sâu hòa tan hoàn toàn trong nước rồi sau đó rửa sạch lại với nước.
Một số mẹ hay thái nhỏ rau rồi mới rửa mà không biết nhiều chất dinh dưỡng trong rau có thể tan trong nước. (ảnh minh hoạ)

2. Thái nhỏ rau củ rồi rửa
Một số mẹ có thoái quen mua rau về, sơ chế cắt, thái nhỏ rồi mới rửa. Hành động này sẽ làm suy yếu các chất dinh dưỡng của rau. Vì như chúng ta đều biết,  có rất nhiều các chất dinh dưỡng trong rau có thể tan trong nước. Nếu rau được thái nhỏ rồi mới rửa, sẽ có khả năng mất rất nhiều chất dinh dưỡng hơn bình thường.
Cách thực hiện đúng: Đầu tiên nên rử rau, sau đó mới thái nhỏ.

3.Đun nấu quá lâu
Rau có nhiều vitamin rất nhạy cảm với nhiệt. Đặc biệt là vitamin c, rất dễ bị oxy hóa, khi tiếp xúc với nhiệt. Theo tính toán, nếu thời gian đun nấu rau quá dài, lượng vitamin C có trong rau có thế mất đi tới 60%
Cách thực hiện đúng: Rau xào chỉ nên đảo qua với lửa, canh rau hay rau luộc cũng nên đun trong khoảng thời gian vừa phải. Khi nấu rau củ, mẹ có thể cho thêm vào một ít giấm, rất có lợi cho việc bảo quản các vitamin.

6. Cho con ăn thật nhiều cải bó xôi
Cải bó xôi là siêu thực phẩm rất giàu vitamin và bổ dưỡng. Vì vậy một số mẹ thường cố ý cho con ăn nhiều cải bó xôi. Trên thực tế, trong cải bó xôi cũng có chứa nhiều axit oxalic – một chất ngăn cản sự hấp thụ canxi của cơ thể. Chị em không nên cho bé ăn quá nhiều cải bó xôi hay nấu cải bó xôi chung với hải sản, tôm cá để bé có thể phát chiều cao toàn diện và không mắc chứng loãng xương.

7. Bảo quản rau trong tủ lạnh không đúng cách
Hầu hết các loại rau đều có nhiệt độ bảo quản thích hợp là từ 3 ℃ -10 ℃, nhưng cũng có một số loại rau quả nếu để nhệt độ thấp sẽ hỏng. Ví dụ như dưa chuột, nếu để trong tủ lạnh với nhiệt độ dưới 10 ℃, nó sẽ bị mềm, chảy nước.
Cách thực hiện đúng: Dưa chuột, cà chua không để trong tủ lạnh. Các loại rau khi bảo quan trong tủ lạnh nên cho vào một hộp nhựa kín, sẽ giữ được lâu hơn tươi hơn.

8. Ăn rau để qua đêm
Đôi khi rau củ nấu ra con ăn không hết, một số mẹ thường tiếc của, cất tủ lạnh mai lấy ra nấu cháo hoặc chế biến lại. Ít ai biết rằng rau củ đã nấu chín để tủ lạnh sẽ bị thất thoát vitamin C, vitamin B các loại, thậm chí nếu để trong tủ lạnh qua đêm món ăn cũng rất dễ bị nhiễm khuẩn, gây tiêu chảy hoặc thậm chí bị ngộ độc thực phẩm.
Cách thực hiện đúng: Chỉ ăn rau củ chế biến trong ngày và ăn luôn ngay sau khi chế biến. Nếu muốn bảo quan rau củ đã chín, cần nghiền nhỏ trữ đông theo quy trình đặc biệt. (tham khảo cách bảo quản đồ ăn cho bé theo kiểu các mẹ nhật)

Nguồn(eva)

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Cho bé ăn dặm đúng cách

Bé đã sẵn sàng ăn dặm khi có thể giữ đầu thẳng và tự ngồi được, biết nhận thức ăn từ thìa, bày tỏ sự thích thú với món ăn...

Bé 6 tháng tuổi, đã đến lúc cần ăn dặm nhưng làm thế nào để biết bé sẵn sàng học làm người lớn chưa? Bác sĩ Komarovskiy E.O - chuyên gia hàng đầu về nhi khoa tại Ukraina chia sẻ một số dấu hiệu giúp bạn nhận biết có nên bắt đầu cho con ăn dặm hay không: 
Ăn dặm là gì? Khi chào đời, thức ăn chính của bé là sữa mẹ. Nếu sữa mẹ không đủ, cần bổ sung thứ giống với sữa mẹ nhất - sữa công thức. Việc bổ sung này khác với cho ăn dặm, khi thức ăn chính (sữa mẹ, sữa công thức) được thay thế bằng những thức ăn khác, để bé dần làm quen với lối sống người lớn.
Việc cho bé ăn dặm đã trở nên phức tạp vì trong hai thập kỷ gần đây, kỹ thuật ăn dặm thay đổi rất nhiều. Trước kia, khi cho bé ăn bổ sung, người ta chủ yếu dùng sữa bò. Rõ ràng là sữa bò, kể cả sữa chất lượng tốt, được xử lý tốt, vẫn không chứa đủ lượng vitamin và các vi chất cần thiết. Vì vậy, thời đó người ta khuyến cáo bổ sung cho trẻ nhỏ từ độ tuổi 3 tháng các loại nước rau, nước táo, lòng đỏ trứng. Theo quan điểm hiện đại, nếu mẹ đủ sữa cho con bú và mẹ có chế độ dinh dưỡng tốt thì trước 6 tháng bé không cần thêm gì. Cũng áp dụng nguyên tắc này cho trường hợp nuôi con bằng sữa công thức.

6 dấu hiệu bé đã sẵn sàng để ăn dặm
Cần hiểu rằng 6 tháng tuổi không phải tiêu chuẩn duy nhất để bắt đầu cho bé ăn dặm, cần có thêm các điều kiện sau:
- Cân nặng tăng gấp đôi so với khi sinh.
- Bé biết giữ đầu thẳng và có thể tự ngồi.
- Biết đưa môi dưới về phía trước để nhận thức ăn từ thìa.
- Biết ngoảnh đầu đi nơi khác khi không muốn ăn món nào đó.
- Lưỡi không còn phản xạ tự động đẩy vật lạ (cho vật gì vào mồm bé cũng đẩy ra, trừ núm vú).
- Bé thể hiện sự thích thú đối với thức ăn bạn đưa.
Nguyên tắc căn bản nhất trong ăn dặm là tăng đột ngột hoạt động thể chất.
Thực phẩm lỏng cung cấp ít năng lượng hơn thực phẩm đặc. Thực phẩm càng đặc càng cung cấp nhiều năng lượng. 100 g cháo đặc cung cấp nhiều năng lượng hơn so với 100 g sữa lỏng.
Sớm hay muộn, mẹ sẽ nhận thấy hoạt động thể chất của bé tăng đột ngột. Trước đó bé nằm yên, chỉ ngọ nguậy chân tay, chơi đùa với các đồ chơi được treo trước mặt. Rồi đột nhiên, trong vòng 2 tuần, bé bắt đầu lật người, trườn bò, tìm cách đứng dậy, bé hoạt động nhiều hơn trước rất nhiều. Chính sự gia tăng đột biến các hoạt động thể chất này là điều kiện quan trọng nhất cho việc ăn dặm. Đó là tín hiệu cho thấy lúc này chỉ nuôi bé bằng thực phẩm lỏng sẽ không đủ.
4 nguyên tắc cho bé ăn dặm lần đầu:
- Không vội vàng, đừng học theo kinh nghiệm của người quen, có nghi ngờ thì nên dừng lại và chờ đợi.
- Đừng ham chạy theo số lượng.
- Không được ép bé ăn.
- Không cần sự đa dạng.
Nếu bé 10 tháng tuổi vẫn không thích ăn dặm, không thể thay thế hoàn toàn một bữa ăn dặm, phải làm gì?
- Hoặc thay đổi loại thức ăn dặm hoặc chờ đợi thêm, dù bạn có sợ đến đâu.
Trước hết hãy ghi nhớ các quy tắc chính khi cho bé ăn dặm:
+ Bắt đầu ăn dặm khi bé được 6 tháng tuổi. Trước 4 tháng tuyệt đối không ăn dặm. Cũng có bác sĩ khuyến cáo bắt đầu cho ăn dặm khi 4-6 tháng tuổi nhưng cho bé ăn dặm tại thời điểm này là nhu cầu của cha mẹ, để được thấy bé giống người lớn, chứ không phải nhu cầu thực của bé.
+ Chỉ cho bé ăn thực phẩm mới khi cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh. Không thử nghiệm khi bé mọc răng, bị cảm, mệt. Cần bé khỏe và người mẹ cho con ăn dặm cũng phải thấy khỏe khoắn. Trường hợp sức khỏe bé không đảm bảo (sau tiêm chủng, người nhà hắt hơi sổ mũi, với nguy cơ ngày hôm sau bé cũng sẽ bị sổ mũi), gia đình có dự định cho những thay đổi sinh hoạt trong thời gian gần (đi du lịch, tổ chức tiệc đông người tại nhà...), tốt nhất là nên đợi thêm một tuần cho tới khi mọi sinh hoạt trở lại bình thường mới bắt đầu cho bé ăn dặm.
+ Cho bé dùng đồ ăn dặm trước khi dùng thức ăn chính: Cho bé ăn cháo sữa ngũ cốc, sau đó mới cho bú mẹ hoặc bú bình.
+ Nếu bé từ chối món ăn dặm nào đó thì không nên cố ép. Đôi khi để bé thích được mùi vị mới cha mẹ phải thử tới 10-15 lần. Ví dụ nếu bé có từ chối thịt hoặc rau thì cũng không có gì đáng sợ. Hãy thử lại sau 10-12 ngày và thử làm vài lần. Nhưng sau mỗi lần bé phun thức ăn dặm mới ra thì phải dừng trong 2 tuần.
+ Chỉ cho bé thử một loại thức ăn mỗi lần. Nếu định cho bé ăn hoa quả nghiền, không cần cho ngay cả táo, lê và mận. Chỉ được dùng một loại thực phẩm mới. Nếu nấu cháo sữa thì không nên dùng loại bột ngũ cốc 7 thành phần mà chỉ dùng loại một thành phần. Khi nào mọi chuyện ổn thỏa mới thử sang thành phần mới.
+ Chỉ bắt đầu cho bé ăn dặm 2 bữa khi đã thay thế hoàn toàn bữa thứ nhất. Chúng ta đã chọn được một món, chẳng hạn cháo sữa ngũ cốc và quyết định thay thế bữa cuối ngày. Đây là lựa chọn tốt vì cháo làm bé no lâu và sau bữa cháo tối trẻ thường ngủ ngon hơn. Nếu chưa thay thế hoàn toàn được bữa tối thì không thử nghiệm bữa sáng hay bữa trưa.
+ Khoảng cách giữa hai lần thử món ăn không dưới 5 ngày. Ví dụ ngày đầu bạn thay sữa mẹ bằng 20 g cháo sữa rồi cho bé bú thêm. Những ngày tiếp theo dùng 40, 60, 80, 100 g cháo, tăng dần trong vòng 5-7 ngày thì thay thế hoàn toàn bữa sữa mẹ.
Điều quan trọng là ăn dặm phải được thực hiện một cách tự nguyện, an toàn, khiến cả bé và cha mẹ hài lòng. Nếu bé 10 tháng chỉ thích sữa mẹ và từ chối tất cả những thứ khác, vấn đề "tôi thích món này, tôi không thích món kia" có thể được giải quyết rất dễ dàng trong vòng 6 giờ nhờ cảm giác đói. Nếu bạn không cho bé thứ này thì bé sẽ muốn thứ bạn yêu cầu bé ăn. Quan trọng là phải an toàn. 
Có cần thêm muối và đường vào đồ ăn của bé không?
Hoàn toàn không cần thêm đường. Riêng về muối, mọi người hay nhầm rằng trẻ em tuyệt đối không được dùng muối. Trẻ em cũng cần muối, nhất là nếu trời nóng và bé ra mồ hôi. Nhưng nhu cầu muối của bé thấp hơn nhiều so với của người lớn. Như vậy có thể thêm muối vào thức ăn của trẻ nhưng với cha mẹ món này khi nếm phải cho cảm giác nhạt, chưa đủ độ mặn.
Nên bắt đầu cho bé ăn dặm bằng thức ăn gì?
Không có quy tắc tuyệt đối. Các bác sĩ chưa thống nhất hoàn toàn về vấn đề này nhưng tất cả đều nhất trí là không nên bắt đầu bằng thịt. Phần lớn bác sĩ hiện nay cho rằng nên bắt đầu hoặc bằng các món rau hoặc bằng cháo sữa ngũ cốc. Có những người ủng hộ cách thứ ba là dùng pho mát làm từ sữa không béo.
Dùng đồ ăn sẵn trong chai tốt hơn hay đồ ăn tự nấu tốt hơn?
- Xã hội văn minh phấn đấu để người mẹ không phải bỏ hết thời gian chuẩn bị thức ăn, để người mẹ có thời gian chăm sóc bản thân và các thành viên khác của gia đình. Nếu xét về lợi ích cho cả gia đình thì bạn hoàn toàn có thể nuôi bé bằng thức ăn sẵn chất lượng cao, kết hợp với đồ ăn tự nấu. Cả hai phương án đều được. Nếu bố kiếm đủ tiền để mua đồ ăn sẵn thì mẹ sẽ dành thời gian nhiều hơn cho bố.
Bác sĩ Trần Thu Thủy (biên dịch)

 
Copyright © 2014 Chăm Sóc Bé Yêu.